hoangtumayman
23-04-2009, 11:28 AM
Những bài viết trong chủ đề này có sự tham khảo tài liệu Training Kit 70-350 của Microsoft.
Microsoft Internet Security and Acceleration (ISA) Server 2004 là gì và sẽ giúp ích cho doanh nghiệp hoặc tổ chức của chúng ta? Trong hầu hết các trường hợp, khi học hỏi một công nghệ mới, chúng ta luôn có nhu cầu biết được bức tranh toàn cảnh, mà có thể giúp chúng ta hình dung công nghệ đó làm việc như thế nào và sẽ đem lại lợi ích gì trước khi muốn biết thêm các chi tiết về việc triển khai và quản lý công nghệ đó. Chính vì thế tôi sẽ giới thiệu với các bạn một số vấn đề mà hầu hết chúng ta quan tâm trước hết về MS ISA Server 2004, sau đó bạn có thể quyết định có nên theo dõi tiếp chủ đề này hay không.
ISA Server được thiết kế chủ yếu để hoạt động như một tường lửa, hòng đảm bảo rằng tất cả những ‘traffic’ không trong đợi từ Internet được chặn lại bên ngoài mạng của tổ chức. Đồng thời, ISA Server có thể cho phép các ‘user’ bên trong mạng tổ chức truy cập một cách có chọn lọc đến các tài nguyên Internet và ‘user’ trên Internet có thể truy cập vào tài nguyên trong mạng tổ chức sao cho phù hợp với các ‘rule’ của ISA Server, chẳng hạn như máy chủ Web hoặc Mail của tổ chức. Có thể hình dung ISA Server được triển khai trên vành đai bao quanh mạng tổ chức, là nơi kết nối mạng tổ chức với một mạng khác bên ngoài (như Internet). Chúng ta sẽ lần lượt xem xét các vấn đề:
* Tổng quan các chức năng của MS ISA Server 2004
* Các “edition” của MS ISA Server 2004
* Các mô hình triển khai MS ISA Server 2004
* Tổng quan về công việc quản trị hệ thống MS ISA Server 2004
TỔNG QUAN CÁC CHỨC NĂNG CỦA MS ISA SERVER 2004
ISA Server là một công cụ hữu hiệu cho một kế hoạch tổng thể để bảo mật cho mạng của tổ chức. Vai trò của ISA Server là rất trọng yếu, bởi vì nó được triển khai tại điểm kết nối giữa mạng bên trong tổ chức và Internet. Hầu hết các tổ chức cung cấp một vài mức độ truy cập Internet cho người dùng của họ. ISA Server có thể áp đặc các chính sách bảo mật (‘security polices’) để phân phát đến ‘user’ một số cách thức truy cập Internet mà họ được phép. Đồng thời, nhiều tổ chức cũng cung cấp cho các ‘user’ ở xa (‘remote user’) một số cách thức truy cập đến các máy chủ trong mạng tổ chức. Ví dụ, nhiều công ty cho phép máy chủ Mail trên Internet kết nói đến máy chủ Mail trong mạng của công ty để gửi e-mail ra Internet. ISA Server được sử dụng để đảm bảo chắc chắn rằng những sự truy cập như vậy được bảo mật.
Các thức làm việc của ISA Server 2004
ISA Server được thiết kể để bảo vệ vành đai của mạng tổ chức. Trong hầu hết trường hợp, vành đai này là giữa mạng cục bộ (LAN) của tổ chức và mạng dùng chung (như Internet). Hình bên dưới cho chúng ta một ví dụ đơn giản về việc triển khai một ISA Server.
[Only registered and activated users can see links]
Hình 1.
Mạng bên trong (‘interal network’) hay gọi là mạng được bảo vệ thường được đặt trong tổ chức và có sự giám sát của nhân viên IT trong tổ chức. ‘Internal network’ coi như đã được bảo mật một cách tương đối, tức là, thông thường những ‘user’ đã được chứng thực mới có quyền truy cập vật lý đến ‘interal network’. Ngoài ra, Nhân viên IT có thể quyết định những loại ‘traffic’ nào được cho phép trên ‘internal network’.
Thậm chí cho dù ‘interal network’ an toàn hơn Internet, thì bạn cũng không nên có ý nghĩ sai lầm rằng, bạn chỉ cần bảo vệ vành đai mạng. Để bảo vệ mạng của bạn một cách đầy đủ, bạn phải vạch ra kế hoạch bảo vệ theo chiều sâu, nó bao gồm nhiều bước để đảm bảo cho mạng của bạn được an toàn, thậm chí trong trường hợp vành đai bị “thủng”. Nhiều cuộc tấn công mạng gần đây như ‘virus’ và ‘worm’ đã tàn phá những mạng có vành đai an toàn. ISA Server là thiết yếu trong việc bảo vệ vành đai mạng, nhưng bạn đừng nghĩ, sau khi triển khai ISA Server thì việc của bạn đã xong.
Một tổ chức không có sự giám sát xem ai truy cập Internet hoặc bảo mật các ‘traffic’ của mạng trên Internet. Thì bất kỳ một người nào trên thế giới với một kết nối Internet đều có thể xác định và truy cập vào các kết nối Internet khác sử dụng hầu như bất kỳ giao thức và ứng dụng gì. Ngoài ra, những gói tin trên mạng (‘network packet’) gửi qua Internet không được an toàn, bởi vì chúng có thể bị bắt lấy và xem trộm bởi bất kỳ ai đang chạy ‘packet sniffer’ trên một phân đoạn mạng Internet. ‘Packet Sniffer’ là một ứng dụng mà bạn có thể sử dụng để bắt lấy và xem tất cả các ‘traffic’ trên một mạng, điều kiện để bắt được ‘traffic’ mạng là ‘packet sniffer’ phải kết nối được đến phân đoạn mạng giữa hai ‘router’.
Internet là một phát minh khó tin và đầy quyến rũ. Bạn có thể tìm kiếm trên mạng này nhiều thông tin hữu ích. Bạn có thể gặp gỡ những người khác, chia sẽ với họ sở thích của bạn và giao tiếp với họ. Nhưng đồng thời Internet cũng là một nơi nguy hiểm, rất đơn giản, bởi lẽ ai cũng truy cập được. Ví dụ, Internet không thể biết được ai là một người dùng bình thường vô hại, ai là tội phạm mạng – những kẻ phá hoại, cả hai đều có quyền truy cập Internet. Điều đó có nghĩa là, không sớm thì muộn, khi tổ chức của bạn tạo một kết nối đến Internet thì kết nối đó sẽ được phơi bài ra cho bất kỳ ai kết nối Internet. Đó có thể là một người dùng hợp pháp tìm kiếm thông tin trên Website của tổ chức, đó cũng có thể là kẻ xấu cố gắng ‘deface’ toàn bộ dữ liệu trên Website hoặc đánh cấp dữ liệu khách hàng từ tổ chức của bạn. Vì đó là bản chất hết sức tự nhiên của Internet, việc bảo mật cho nó là hầu như không thể. Nên tốt nhất, bước đầu tiên trong việc bảo vệ kết nối Internet của bạn là xem tất cả ‘user’ kết nối đến bạn đều là “kẻ xấu” cho tới khi “thân phận” của họ được chứng minh.
Hình 1 đã cho thấy một ví dụ đơn giản của một cấu hình mạng mà ở đó, ranh giới giữa ‘internal network’ và Internet được định nghĩa một cách dễ dàng. Trong thực tế, việc định nghĩa ranh giới giữa ‘interal network’ của tổ chức với phần còn lại của thế giới là không hề đơn giản. Hình 2 cho thấy một sự phức tạp hơn, nhưng thực tế hơn và “kịch tính” hơn.
[Only registered and activated users can see links]
Hình 2.
Vành đai mạng đã trở nên khó định nghĩa hơn theo như kịch bản trong hình 2. Kịch bản này cũng khiến việc bảo mật kết nối Internet khó khăn hơn rất nhiều. Cho dù là vậy ISA Server được thiết kế để đem lại sự an toàn theo yêu cầu ở vành đai mạng. Ví dụ, theo kịch bản trong hình 2, ISA Server có thể đem lại sự an toàn cho vành đai, bằng cách thực hiện các việc như sau:
* Cho phép truy cập nặc danh đến Website dùng chung (‘public website’), trong khi đó lọc ra mã độc hại nhắm đến việc gây hại Website.
* Chứng thực ‘user’ từ tổ chức của đối tác trước khi gán quyền truy cập đến Website dùng riêng (‘private website’).
* Cho phép truy cập VPN giữa những vùng địa lý khác nhau, nhờ đó ‘user’ ở chi nhánh văn phòng có thể truy cập đến tài nguyên trong ‘interal network’.
* Cho phép nhân viên ở xa truy cập ‘internal Mail Server’, và cho phép ‘client’ truy cập VPN đến ‘internal File Server’.
* Áp đặc chính sách truy cập Internet của tổ chức hòng giới hạn những giao thức được dùng tới ‘user’, và lọc từng ‘request’ để chắc chắn họ chỉ đang truy cập đến các tài nguyên Internet cho phép.
Bài viết kế tiếp chúng ta sẽ tìm hiểu chức năng tường lửa (Firewall) của ISA Server...
Microsoft Internet Security and Acceleration (ISA) Server 2004 là gì và sẽ giúp ích cho doanh nghiệp hoặc tổ chức của chúng ta? Trong hầu hết các trường hợp, khi học hỏi một công nghệ mới, chúng ta luôn có nhu cầu biết được bức tranh toàn cảnh, mà có thể giúp chúng ta hình dung công nghệ đó làm việc như thế nào và sẽ đem lại lợi ích gì trước khi muốn biết thêm các chi tiết về việc triển khai và quản lý công nghệ đó. Chính vì thế tôi sẽ giới thiệu với các bạn một số vấn đề mà hầu hết chúng ta quan tâm trước hết về MS ISA Server 2004, sau đó bạn có thể quyết định có nên theo dõi tiếp chủ đề này hay không.
ISA Server được thiết kế chủ yếu để hoạt động như một tường lửa, hòng đảm bảo rằng tất cả những ‘traffic’ không trong đợi từ Internet được chặn lại bên ngoài mạng của tổ chức. Đồng thời, ISA Server có thể cho phép các ‘user’ bên trong mạng tổ chức truy cập một cách có chọn lọc đến các tài nguyên Internet và ‘user’ trên Internet có thể truy cập vào tài nguyên trong mạng tổ chức sao cho phù hợp với các ‘rule’ của ISA Server, chẳng hạn như máy chủ Web hoặc Mail của tổ chức. Có thể hình dung ISA Server được triển khai trên vành đai bao quanh mạng tổ chức, là nơi kết nối mạng tổ chức với một mạng khác bên ngoài (như Internet). Chúng ta sẽ lần lượt xem xét các vấn đề:
* Tổng quan các chức năng của MS ISA Server 2004
* Các “edition” của MS ISA Server 2004
* Các mô hình triển khai MS ISA Server 2004
* Tổng quan về công việc quản trị hệ thống MS ISA Server 2004
TỔNG QUAN CÁC CHỨC NĂNG CỦA MS ISA SERVER 2004
ISA Server là một công cụ hữu hiệu cho một kế hoạch tổng thể để bảo mật cho mạng của tổ chức. Vai trò của ISA Server là rất trọng yếu, bởi vì nó được triển khai tại điểm kết nối giữa mạng bên trong tổ chức và Internet. Hầu hết các tổ chức cung cấp một vài mức độ truy cập Internet cho người dùng của họ. ISA Server có thể áp đặc các chính sách bảo mật (‘security polices’) để phân phát đến ‘user’ một số cách thức truy cập Internet mà họ được phép. Đồng thời, nhiều tổ chức cũng cung cấp cho các ‘user’ ở xa (‘remote user’) một số cách thức truy cập đến các máy chủ trong mạng tổ chức. Ví dụ, nhiều công ty cho phép máy chủ Mail trên Internet kết nói đến máy chủ Mail trong mạng của công ty để gửi e-mail ra Internet. ISA Server được sử dụng để đảm bảo chắc chắn rằng những sự truy cập như vậy được bảo mật.
Các thức làm việc của ISA Server 2004
ISA Server được thiết kể để bảo vệ vành đai của mạng tổ chức. Trong hầu hết trường hợp, vành đai này là giữa mạng cục bộ (LAN) của tổ chức và mạng dùng chung (như Internet). Hình bên dưới cho chúng ta một ví dụ đơn giản về việc triển khai một ISA Server.
[Only registered and activated users can see links]
Hình 1.
Mạng bên trong (‘interal network’) hay gọi là mạng được bảo vệ thường được đặt trong tổ chức và có sự giám sát của nhân viên IT trong tổ chức. ‘Internal network’ coi như đã được bảo mật một cách tương đối, tức là, thông thường những ‘user’ đã được chứng thực mới có quyền truy cập vật lý đến ‘interal network’. Ngoài ra, Nhân viên IT có thể quyết định những loại ‘traffic’ nào được cho phép trên ‘internal network’.
Thậm chí cho dù ‘interal network’ an toàn hơn Internet, thì bạn cũng không nên có ý nghĩ sai lầm rằng, bạn chỉ cần bảo vệ vành đai mạng. Để bảo vệ mạng của bạn một cách đầy đủ, bạn phải vạch ra kế hoạch bảo vệ theo chiều sâu, nó bao gồm nhiều bước để đảm bảo cho mạng của bạn được an toàn, thậm chí trong trường hợp vành đai bị “thủng”. Nhiều cuộc tấn công mạng gần đây như ‘virus’ và ‘worm’ đã tàn phá những mạng có vành đai an toàn. ISA Server là thiết yếu trong việc bảo vệ vành đai mạng, nhưng bạn đừng nghĩ, sau khi triển khai ISA Server thì việc của bạn đã xong.
Một tổ chức không có sự giám sát xem ai truy cập Internet hoặc bảo mật các ‘traffic’ của mạng trên Internet. Thì bất kỳ một người nào trên thế giới với một kết nối Internet đều có thể xác định và truy cập vào các kết nối Internet khác sử dụng hầu như bất kỳ giao thức và ứng dụng gì. Ngoài ra, những gói tin trên mạng (‘network packet’) gửi qua Internet không được an toàn, bởi vì chúng có thể bị bắt lấy và xem trộm bởi bất kỳ ai đang chạy ‘packet sniffer’ trên một phân đoạn mạng Internet. ‘Packet Sniffer’ là một ứng dụng mà bạn có thể sử dụng để bắt lấy và xem tất cả các ‘traffic’ trên một mạng, điều kiện để bắt được ‘traffic’ mạng là ‘packet sniffer’ phải kết nối được đến phân đoạn mạng giữa hai ‘router’.
Internet là một phát minh khó tin và đầy quyến rũ. Bạn có thể tìm kiếm trên mạng này nhiều thông tin hữu ích. Bạn có thể gặp gỡ những người khác, chia sẽ với họ sở thích của bạn và giao tiếp với họ. Nhưng đồng thời Internet cũng là một nơi nguy hiểm, rất đơn giản, bởi lẽ ai cũng truy cập được. Ví dụ, Internet không thể biết được ai là một người dùng bình thường vô hại, ai là tội phạm mạng – những kẻ phá hoại, cả hai đều có quyền truy cập Internet. Điều đó có nghĩa là, không sớm thì muộn, khi tổ chức của bạn tạo một kết nối đến Internet thì kết nối đó sẽ được phơi bài ra cho bất kỳ ai kết nối Internet. Đó có thể là một người dùng hợp pháp tìm kiếm thông tin trên Website của tổ chức, đó cũng có thể là kẻ xấu cố gắng ‘deface’ toàn bộ dữ liệu trên Website hoặc đánh cấp dữ liệu khách hàng từ tổ chức của bạn. Vì đó là bản chất hết sức tự nhiên của Internet, việc bảo mật cho nó là hầu như không thể. Nên tốt nhất, bước đầu tiên trong việc bảo vệ kết nối Internet của bạn là xem tất cả ‘user’ kết nối đến bạn đều là “kẻ xấu” cho tới khi “thân phận” của họ được chứng minh.
Hình 1 đã cho thấy một ví dụ đơn giản của một cấu hình mạng mà ở đó, ranh giới giữa ‘internal network’ và Internet được định nghĩa một cách dễ dàng. Trong thực tế, việc định nghĩa ranh giới giữa ‘interal network’ của tổ chức với phần còn lại của thế giới là không hề đơn giản. Hình 2 cho thấy một sự phức tạp hơn, nhưng thực tế hơn và “kịch tính” hơn.
[Only registered and activated users can see links]
Hình 2.
Vành đai mạng đã trở nên khó định nghĩa hơn theo như kịch bản trong hình 2. Kịch bản này cũng khiến việc bảo mật kết nối Internet khó khăn hơn rất nhiều. Cho dù là vậy ISA Server được thiết kế để đem lại sự an toàn theo yêu cầu ở vành đai mạng. Ví dụ, theo kịch bản trong hình 2, ISA Server có thể đem lại sự an toàn cho vành đai, bằng cách thực hiện các việc như sau:
* Cho phép truy cập nặc danh đến Website dùng chung (‘public website’), trong khi đó lọc ra mã độc hại nhắm đến việc gây hại Website.
* Chứng thực ‘user’ từ tổ chức của đối tác trước khi gán quyền truy cập đến Website dùng riêng (‘private website’).
* Cho phép truy cập VPN giữa những vùng địa lý khác nhau, nhờ đó ‘user’ ở chi nhánh văn phòng có thể truy cập đến tài nguyên trong ‘interal network’.
* Cho phép nhân viên ở xa truy cập ‘internal Mail Server’, và cho phép ‘client’ truy cập VPN đến ‘internal File Server’.
* Áp đặc chính sách truy cập Internet của tổ chức hòng giới hạn những giao thức được dùng tới ‘user’, và lọc từng ‘request’ để chắc chắn họ chỉ đang truy cập đến các tài nguyên Internet cho phép.
Bài viết kế tiếp chúng ta sẽ tìm hiểu chức năng tường lửa (Firewall) của ISA Server...